Trang chủgolden markTin tức

Tháng 12 năm 2015, xuất khẩu nông sản Việt Nam giảm kim ngạch ở nhiều mặt hàng
Ngày đăng: 30/12/2015

Tháng 12 năm 2015, xuất khẩu nông sản Việt Nam giảm kim ngạch ở nhiều mặt hàng
Theo số liệu thống kê, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính tháng 12 năm 2015 ước đạt 13,95 tỷ USD, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2014, giảm rất mạnh ở các mặt hàng như cà phê (28,1%), cao su (14,4%), chè (7,4%) và gạo (2,9%).

www.goldenmark.org - Tháng 12 năm 2015, xuất khẩu nông sản Việt Nam giảm kim ngạch ở nhiều mặt hàng

Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:
Gạo: Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 12 năm 2015 ước đạt 629 nghìn tấn với giá trị đạt 267 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu gạo năm 2015 ước đạt gần 6,7 triệu tấn và 2,85 tỷ USD, tăng 5,8% về khối lượng nhưng giảm 2,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.Giá gạo xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2015 đạt 425,83 USD/tấn, giảm 8,05% so với cùng kỳ năm 2014. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2015 với 31,73% thị phần. Mười một tháng đầu năm 2015 xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc tăng 4,97% về khối lượng nhưng giảm 3,54% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. So với 11 tháng đầu năm 2014, các thị trường có sự tăng trưởng mạnh là thị trường Malaixia tăng 10,55% về khối lượng và tăng 1,12% về giá trị, vươn lên vị trí thứ 3 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 8,11% thị phần; thị trường Indonesia tăng 47,86% về lượng và tăng 26,71% về giá trị, đứng vị trí thứ 4 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam; thị trường Gana tăng 17,62% về khối lượng và tăng 8,70% về giá trị, đứng vị trí thứ 5 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam; thị trường Bờ Biển Ngà tăng 43,01% về khối lượng và tăng 26,67% về giá trị, đứng thứ 6 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam. Đáng chú ý là 11 tháng đầu năm 2015 thị trường Nga có sự tăng trưởng đột biến, tăng gấp 2,04 lần về khối lượng và tăng 81,53% về giá trị. Các thị trường có sự giảm đột biến trong 11 tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm 2014 là Phillipin (giảm 19,66% về khối lượng và giảm 27,19% về giá trị), Singapore (giảm 35,59% về khối lượng và giảm 33,92% về giá trị), Hồng Kông (giảm 27,45% về khối lượng và giảm 35,54% về giá trị) và Hoa Kỳ (giảm 29,3% về khối lượng và giảm 24,14% về giá trị).

Cà phê: Xuất khẩu cà phê trong tháng 11 năm 2015 ước đạt 126 nghìn tấn với giá trị đạt 236 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê năm 2015 ước đạt 1,28 triệu tấn với tổng giá trị 2,56 tỷ USD, giảm 24,6% về khối lượng và giảm 28,1% về giá trị so cùng kỳ năm 2014. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2015 đạt 2.020 USD/tấn, giảm 3,6% so với năm 2014. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2015 với thị phần lần lượt là 13,82% và 11,39%. Ngoại trừ thị trường Nhật Bản (tăng 10,25% về khối lượng và tăng 0,24% về giá trị), giá trị xuất khẩu cà phê trong 11 tháng đầu năm 2015 ở 9 thị trường chính còn lại của Việt Nam đều giảm so với cùng kỳ năm 2014.

Chè: Khối lượng xuất khẩu chè tháng 12 năm 2015 ước đạt 13 nghìn tấn với giá trị đạt 22 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè năm 2015 ước đạt 123 nghìn tấn với giá trị đạt 211 triệu USD, giảm 6,8% về khối lượng và giảm 7,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Giá chè xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2015 đạt 1.712 USD/tấn, tăng 0,01% so với cùng kỳ năm 2014. Trong 11 tháng đầu năm 2015, khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan – thị trường lớn nhất của Việt Nam với 37,95% thị phần – tăng 0,64% về khối lượng nhưng giảm 1,66% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng đột biến là Nga (tăng 22,55%), Indonesia (tăng 44,94%) và các TVQ Arập Thống nhất (tăng 35,76%).

Hạt điều: Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 12 năm 2015 ước đạt 27 nghìn tấn với giá trị 202 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu năm 2015 đạt 328 nghìn tấn với 2,39 tỷ USD, tăng 8,3% về khối lượng và tăng 20,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2015 đạt 7.291 USD/tấn, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2014. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 35,14%, 13,89% và 12,92% tổng giá trị xuất khẩu. Các thị trường có giá trị tăng mạnh là Đức (60,28%), Thái Lan (63,52%), Hà Lan (37,72%), Anh (37,6%) và Hoa Kỳ (29,30%).

Tiêu: Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 12 năm 2015 ước đạt 8 nghìn tấn, với giá trị đạt 72 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu năm 2015 lên 135 nghìn tấn với giá trị 1,26 tỷ USD, giảm 13% về khối lượng nhưng tăng 5% về giá trị. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm 2015 đạt 9.335 USD/tấn, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2014. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất và Singapore với 35,87% thị phần. Các thị trường có giá trị tăng mạnh là Đức (35,51%), Hàn Quốc (32,73%), Tây Ban Nha (31,18%) và Anh (30,25%).

Sắn và các sản phẩm từ sắn: Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 12 năm 2015 ước đạt 378 nghìn tấn, với giá trị đạt 113 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này năm 2015 đạt 4,08 triệu tấn với giá trị 1,31 tỷ USD, tăng 21% về khối lượng và tăng 15% về giá trị so cùng kỳ năm 2014. Trong 11 tháng đầu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính chiếm tới 89,16% thị phần, tăng 27,58% về khối lượng và tăng 22,42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị phần của các thị trường chính khác đều nhỏ hơn 2%. Các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là Đài Loan (tăng 63,9% về khối lượng và tăng 59,57% về giá trị; và Nhật Bản (tăng 27,52% về khối lượng và tăng 20,68% về giá trị).

Nguồn VN Export.



Bài viết liên quan